• hoạt động nhân đạo
    thăm hỏi gia đình học sinh có hoàn cảnh khó khăn để tiếp tục đến trường
  • Hoạt động chào mừng ngày 20-11
    Tổ chức văn nghệ chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11
  • Hoạt động chào mừng ngày 20-11
    văn nghệ
  • Trò chơi
    các trò chơi dân gian các học sinh luôn hào hứng tham gia
  • Chào mừng ngày 26-3
    đã tìm ra học sinh xuất sắc trong cuộc thi"Thử sức thi tài" do nhà trường tổ chức
  • Trong lễ khai giảng năm học mới
    Tập thể HĐSP đã tặng dụng cụ học tập cho học sinh bước vào năm học mới
  • Hoạt động chào mừng 26/3
    trên sàn thi đấu là những hoc sinh xuất sắc của nha trường
  • Trò chơi
    trò chơi dân gian
  • Trong lễ khai giảng năm học mới
    Đại biểu,CB,GV và toàn thể học sinh ủng hộ học sinh nghèo có guy cơ bỏ học


Cac ngày Lịch sử dáng nhớ

Ngày đăng: 26-06-2012
Đọc: 2556 lượt

CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ
07 – 5 – 1954

Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo rộng lớn ở phía Tây vùng rừng núi phía Bắc. Đây là một căn cứ quân sự rất thuận lợi. Thực dân Pháp đã lấy địa bàn này làm chiến lược cơ động.

Trong chiến dịch thu – đông năm 1953 – 1954, lực lượng địch tại tập đoàn cứ điểm Điện Biên phủ bao gồm 17 tiểu đoàn bộ binh và lính dù, 3 tiểu đoàn pháo binh gồm 40 khẩu pháo, 01 tiểu đoàn công binh, 01 đại đội xe tăng, 01 đại đội xe vận tải có khoảng 200 chiếc và 01 phi đội không quân thường trực 14 chiếc. Số quân lính địch là 16.200 tên, chúng bố trí 49 cứ điểm thành 8 cụm là một hệ thóng hỏa lực nhiều tầng. Tám cụm cứ điểm chia làm 3 phân khu, phân khu trung tâm gồm 2/3 lực lượng ở ngay giữa Mường Thanh. Sau 5 ngày chiến đấu ta đã tiêu diệt gọn 2 cứ điểm kiên cố vào bậc nhất của địch là Him Lam và Độc Lập,sau đó làm tan rã thêm 1 tiểu đoàn địch và tiêu diệt tiểu đoàn Bản Kéo, ta diệt và bắt sống 2.000 tên địch, 26 máy bay bị phá hủy, mở thông cửa vào trung tâm tập đoàn cứ điểm, uy hiếp sân bay Mường Thanh.

17 giờ 30 phút ngày 30/3/1954, ta mở đợt tấn công thứ hai. Cuộc chiến trên đồi A1 diễn ra hết sức gay go, ác liệt. Hai bên giằng co từng tấc đất. Đến ngày 04/4 mỗi bên chiếm giữ mộtt nữ đồi A1.

Đánh vào khu Đông ta diệt 2.500 tên địch, chiếm lĩnh phần lớn các cao điểm. Quân đội viễn chinh Pháp đã tập trung hầu hết máy bay chiến đấu, máy bay vận tải ở Đông Dương cho mặt trận. Đế quốc Mỹ chi viện cho thực dân pháp gần 100 máy bay oanh tạc chiến đấu và gần 50 máy bay vận tải đồng thời tổ chức diễn tập “đổ bộ ồ ạt vào Đông Dương”.

Đêm 01/5/1954 ta mở đợt tấn công thứ 3, quân ta đánh chiếm các cứ điểm còn lại phía đông và phía Tây, bẻ gãy cuộc phản kích của kẻ địch. Đêm 3/5/1954, bộ đội ta chỉ cách Sở chỉ huy của địch 300 mét.

17 giờ 30 phút ngày 7/5/1954, những trận pháo kích của bộ đội ta nhắm thẳng vào sở chỉ huy địch. Tướng Đờ- cát – tơ- ri và toàn bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm của địch bị bắt sống. Gần 1 vạ quân địch nhảy ra khỏi hầm xin đầu hàng. Đêm đó ta tấn công bắt sống toàn bộ quân địch ở phân khu Nam.

Sau 56 ngày đêm chiến đấu cực kỳ anh dũng, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã toàn thắng. Ta tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên địch, bắn rơi phá hủy 62 máy bay, thu toàn bộ vũ khí kho xăng, đạn dược, quân trang quân dụng.

Chiến thắng Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. “Đã được ghi vào lịch sử như một Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa ở thế kỷ 20 và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi, đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc” (Lê Duẫn).

NGÀY GIẢI PHÓNG SÀI GÒN THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC
30-4-1975

Sau một tháng tiến công và nổi dậy, quân dân ta đã giành toàn thắng trong 2 chiến dịch Tây Nguyên và Huế - Đà Nẵng, giải phóng hơn nữa đất đai và nử số dân toàn miền Nam,chiếm giữ một khối lượng lớn vật chất trang bị phương tiện chiến tranh. Các lực lượng vũ trang của ta trưởng thành nhanh chóng.

Nghị quyết của Bộ Chính trị ngày 25/3/1975 đã quyết định chuẩn bị chiến dịch giải phóng Sài Gòn mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh.

Ngày 9/4 quân ta tiến công Xuân Lộc, một căn cứ phòng thủ trọng yếu của địch bảo vệ Sài Gòn từ phía Đông. Tại đây đã diễn ra những trận chiến đấu ác liệt. Ngày 16/4 quân ta phá vỡ tuyến phòng thủ của địch ở Phan Rang. Ngày 21/4 toàn bộ quân địch ở Xuân Lộc tháo chạy. Cũng ngày này Nguyễn Văn Thiệu đã tuyên bố từ chức Tổng thống.

17 giờ ngày 26/4 quân ta được lệnh nổ súng mở đầu chiến dịch. Tất cả 5 cánh quân từ các hướng vượt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch tiến vào Sài Gòn.

Đêm 28 rạng sáng 29/4 tất cả các cánh quân của ta được lệnh đồng loạt tổng công kích vào trung tâm thành phố, đánh chiếm tất cả các cơ quan đầu não của địch.

9 giờ 30 phút ngày 30/4 Dương Văn Minh vừa lên làm Tổng thống đã kêu gọi “ngừng bắn để điều đình giao chính quyền” nhằm cứu quân nguỵ khỏi sụp đổ.

10giờ 45 phút ngày 30/4 xe tăng của ta tiến thẳng vào dinh Tổng thống nguỵ (dinh Độc Lập), bắt sống toàn bộ ngụy quyền Trung ương. Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện. 11 giờ 30 phút cùng ngày, lá cờ cách mạng tung bay trên nóc phủ tổng thống ngụy, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Miền nam được giải phóng, đất nước hoàn toàn độc lập, non sông thu về một mối.

 

NGÀY KHỞI NGHĨA NAM KỲ
23 – 11 – 1940

Tháng 6/1940, nước Pháp bị quân đội phát xít Hitle chiếm đóng. Nhân cơ hội này, tháng 9/1940, phát xít Nhật xâm lược Đông Dương. Thực dân Pháp nhanh chóng đầu hàng quân Nhật. Từ đây nhân dân Việt Nam bị hai kẻ thù cùng thống trị là Nhật và Pháp. Căm thù thực dân Pháp và được tinh thần cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn cổ vũ, nhân dân ở nhiều tỉnh Nam Bộ đã vùng lên đấu tranh quyết liệt chống quân thù. 
Ngày 23/11/1940, cuộc khởi nghĩa Nam kỳ bùng nổ dù đã có lệnh hoãn của Trung ương Đảng nhưng truyền đạt không kịp. Ở hầu khắp các tỉnh thành miền Nam, nhất là Mỹ Tho, quần chúng nổi dậy chiến đấu rất dũng cảm. Chính quyến của địch ở một số xã và quận hoang mang, tan rã. Đội viên các đội tự vệ và du kích trong cuộc khởi nghĩa hầu hết là trẻ tuổi. Họ hăng hái chiến đấu chống địch bằng vũ khí thô sơ. Trong trận đánh quân tiếp viện của quân địch từ Tây Ninh đến ứng cứu cho quận lỵ Hóc Môn bị quân khởi nghĩa vây hãm, du kích đã bắn chết tên thực dân ác ôn cùng nhiều lính địch ở Cầu Bông. Ở Mỹ Tho, các đội tự vệ cùng nhân dân phá tan bộ máy chính quyền của địch ở 54 trong tổng số 57 xã thuộc hai huyện Châu Thành và Cai Lậy. Ở những xã này, các tổ chức đảng và quân khởi nghĩa đã tịch thu các kho thóc của bạn địa chủ chia cho dân nghèo. Cũng tại Mỹ Tho, lần đầu tiên xuất hiện lá cờ đỏ sao vàng sau này trở thành lá cờ của Mặt trận Việt Minh, Quốc kỳ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau đại thắng mùa xuân năm 1975.
Thực dân Pháp và tay sai đã đàn áp cuộc khởi nghĩa một cách vô cùng tàn khốc. Chúng cho máy bay dội bom và bắn phá nhiều làng mạc, có thôn xóm không còn ai sống sót. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra vào lúc kẻ thù cón tương đối mạnh nên đã bị thất bại, song sự kiện đó đã nêu cao tinh thần anh dũng bất khuất của nhân dân Việt Nam, là tiếng kèn xung trận vang vọng núi sông từ Nam ra Bắc dưới ngọn cờ của Đảng.

 

KÝ HIỆP ĐỊNH PARI CHẤM DỨTCHIẾN TRANH 
LẬP LẠI HÒA BÌNH Ở VIỆT NAM

27/01/1973

Ngày 27/01/1973, tại Pari, bộ trưởng ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hơa Miền nam Việt Nam cùng với các Bộ trưởng ngoại giao Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Hoa kỳ và chính quyền Sài Gòn đã ký hiệp địng về “Chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam và các nghị định thư kèm theo”. Nội dung chủ yếu của Hiệp định đó là: 
- Hoa kỳ cùng các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam.

- Hoa kỳ rút hết quân viễn chinh và quân chư hầu, phá hết các căn cứ quân sự Mỹ, cam kết không tiếp tục dính líu đến quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.

- Các bên để cho nhân dân miền nam Việt Nam tự quyết địng tương lai chính trị của họ trong tổng tuyển cử tự do.

- các bên công nhận thực tế Miền nam việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị.

- Các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả cho nhau tù binh và dân thường bị bắt.

Hiệp định Pari về Việt Nam là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân ta trên cả hai miền đất nước, mở ra một bước ngoặt mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, cũng là thắng lợi to lớn của các lực lương hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên thế giới.

 

NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG
Mồng 10 tháng 3 (âm lịch
)


“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”


Theo sử cũ và truyền thuyết để lại, nước Văn Lang lú bấy giờ có 15 bộ lạc Việt sinh sốngchủ yếu ở miến trung du và đồng bằng châu thổ sông Hồng. hàng chục bộ lạc Âu Việt sinh sống ở vùng Việt Bắc.

Do nhu cầu trị thủy, chống giặc ngoại xâm và do việc trao đổi kinh tế văn hóa ngàng càng được đẩy mạnh, giữa các bộ lạc gần gũi nhau về dòng máu có xu hướng tập hợp và thống nhất với nhau.

Trong số các bộ lạc Lạc Việt, có bộ lạc Văn Lang là hùng mạnh hơn cả, lãnh thổ của bộ lạc này trải dài từ chân núi Ba Vì tới sườn Tam Đảo. Thủ lãnh của bộ lạc ăn lang đã đóng vai trò lich sử là người đứng ra thống nhất các bộ lạc Lạc Việt, dựng nên nước Văn lang. Ông xưng Vua.Sử gọi là Hùng Vương và con cháu ông sau này nhiều đời cũng mang danh hiệu đó:
1. Kinh Dương Vương Lộc Tục, tôn dâng miếu hiệu là Hùng Dương.
2. Lạc long Quân Sùng Lãm, thuỵ hiệu Hùng Hiền.
3. Hùng Lân.
4. Hùng Việp.
5. Hùng Hi.
6. hùng Huy.
7. Hùng Chiêu.
8. Hùng Vĩ.
9. Hùng Định.
10. Hùng Hi.
11. Hùng Trinh.
12. Hùng Võ.
13. Hùng Việt.
14. Hùng Anh.
15. Hùng Triều.
16. Hùng Tạo.
17. Hùng Nghị.
18. Hùng Duệ.
Hùng Vương là thủ lãnh của Việt Nam thời kỳ bắt đầu dựng nước. Lãnh thổ sinh trưởng đầu tiêncủa tổ tiên là Miền bắc Việt Nam. Đất không rộng lắm, có đủ sức sinh tồn và phát triển. nhũng nhóm dân cư quan trọng nhất là người Việt cổ. Ban đầu họ sống thành từng công xã, ràng buộc với nhau bởi mối quan hệ máu mủ.H Họ đoàn kết tương thân,tương ái trong công vịê làm ăn vàgiữ nước. Con người Việt Nam ở thời Hùng Vương vừa mới cố sức vươn lên khỏi cuộc sống tự nhiên đầy khó khăn gian khổ, rừng rậm, đầm lầy, thú dữ, giông bão, lụt lội… đã phải đương đầu với những kẻ thù xâm lược. Thánh Gióng là thiên thần thoại lịch sử rất đẹp, ca ngợi tinh thần chiến đấu bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc ta. những truyền thống tốt đẹp đó được duy trì rất lâu trong xã hội Việt Nam.

Thời kỳ Hùng Vương là một giai đoạn rất quan trọng trong lịch sử dân tộc. Chính thời kỳ này đã xây dựng nên một nền tảng của dân tộc Việt Nam, nền tảng văn hóa Việt Nam và truyền thống yêu nước. Ngày nay nhân dân ta lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm làm ngày giỗ tổ và cùng nhau về thăm đền Hùng để tửơng nhớ đến cội nguồn, tổ tiên của dân tộc Việt Nam.

 

 


Bình luận



Tên của bạn
*

Email của bạn
*

Ý kiến của bạn
 
Còn lại từ

Mã bảo vệ
*
 
Bạn hãy nhập vào những ký tự mà bạn thấy bên phải, chú ý: chấp nhận cả chữ hoa và chữ thường

 

Thông báo mới

Đã có thông tư 58 để xếp loại cho các môn chuyên biệt, đề nghị các gv chú ý tải về để xếp loại cho chính xác
  
 Hôm qua: 13 
|
 Hôm nay: 1